Hạn chế sân hận- trải rộng tình thương ( số 2)

PHÁP ĐỐI TRỊ SÂN HẬN
1. Quy luật đầu tiên – Giữ chánh niệm
Chánh niệm là người bảo vệ đầu tiên và hữu hiệu chống lại sân hận cùng với những bất ổn của tâm. Thế nào là chánh niệm? Đó là sự hiện diện của tâm, thức giác, biết rõ những gì đang xảy ra ngay thời điểm khởi phát. Do đó, giây phút sân hận khởi lên, ta phải áp dụng chánh niệm. Ta phải nhanh chóng nhận thức ra sự khởi lên của cơn sân hận trong ta. Ta phải chú ý, xác định hoặc nhủ thầm: “ A! Cơn giận ở trong ta. Cơn giận đang khởi lên ở trong ta”. Hoặc ngắn gọn như “sân hận, sân hận”. Và nếu không thích nhủ thầm như thế, ta chỉ cần ý thức sự hiện hữu của sân hận là được.

Cơn sân hận khởi lên đây đó và sự hiện diện của nó được xác nhận, đơn giản chỉ cần nhận biết nó, cũng mang lại lợi ích trong việc kiểm soát cơn sân hận. Tại sao? Bởi vì, bất cứ khi nào sự bực tức khởI lên, bao giờ nó cũng nhận chìm chúng ta trước khi chúng ta phát hiện ra nó. Nó tạo ra đám mây mù che kín tâm ta và làm tê liệt sự xét đoán nhạy bén của chúng ta. Nói cách khác, sự giận dữ hoàn toàn chế ngự tâm thức ta. Vào lúc này, hầu như chúng ta thực sự không còn tỉnh giác nữa, nếu có còn chăng chỉ là tâm trạng phẫn nộ trong ta. Thay vì đáp trả, phản ứng với nó, chúng ta lại để cho nó nuốt chửng mình. Sắc mặt ta biến đổi, chúng ta bắt đầu ăn nói hằn học, khoa chân múa tay, thậm chí chửi mắng người nào đó. Chánh niệm giúp ta giải quyết tất cả vấn đề này; nó ngăn chặn cơn giận nhấn chìm chúng ta. Nó lập nên sự hiện hữu tối cần của thức giác. Chỉ cần nhận biết rõ cũng giúp giải toả được cảm xúc sôi sục. Thay vì đáp trả, phản ứng với cơn sân hận, chúng ta lặng lẽ quan sát nó, theo dõi cảm xúc bực tức nóng nảy. Và trong quá trình quan sát như thế, cơn sân hận lắng dần. Thoạt đầu, nó suy yếu rồi từ từ tan biến đi. 

Hơn nữa, trong khi quan sát cơn sân hận, ta không hề mảy may đến người, vật, hoặc bối cảnh khiến ta phẫn nộ. Chúng ta hướng vào bên trong, chú tâm đến trạng thái tâm thức của mình, chú ý dõi theo sự hiện diện của cảm xúc giận dữ. Thật hợp lý, khi chúng ta chuyển dịch sự chú ý từ nguyên nhân gây phẫn nộ sang sự nhận biết chân thực chính cơn phẫn nộ đó, vì là một cảm xúc nên cơn giận sẽ giảm dần. Nếu chúng ta chỉ tiếp tục chú ý đến nguyên nhân (chẳng hạn như một kẻ nào đó) làm ta bực tức thì dĩ nhiên ta sẽ trở nên giận dữ hơn. Nhưng khi chánh niệm loé sáng, sự bực tức không còn phát triển được nữa. Nó bị chặn đứng, và nếu ta tiếp tục chú ý quan sát, nó sẽ lắng xuống dần, cuối cùng tan biến đi.   
Điều kỳ diệu là sự tức giận tự tan biến mà không cần phải đè nén hoặc chống lại nó. Bạn không cần nghiến răng, nắm chặt bàn tay lại hoặc dùng toàn thể sức mạnh tinh thần để kiềm chế nó; chỉ cần lặng lẽ quan sát, nó sẽ giảm dần và biến mất. Đây là phép lạ của chánh niệm. Điều này thật rõ ràng, nhất là trong giai đoạn tập trung tư tưởng cao độ của thiền giả, chánh niệm đặc biệt nhạy bén, có thể hạ gục sân hận hoặc bất kỳ sự bất ổn nào của tâm bằng biện pháp đơn giản: chú tâm.
Điều lợi nữa của chánh niệm là cho ta cơ hội lắng tâm và đưa ra quyết định đúng đắn. Khi chú tâm để nhận ra sự hiện diện của sân hận, chúng ta không bị cuốn hút theo cảm xúc. Chánh niệm cho ta thời gian để quán chiếu và quyết định hướng giải quyết sáng suốt. Trong quá trình quán, sân sẽ tự yếu dần và khi mà càng lúc ta lại càng chẳng muốn sân nữa thì sân hận sẽ thoái lui. Ý niệm không tức giận hoặc ý niệm không còn tiếp tục nữa sẽ sanh khởi và cuối cùng sân hận tan biến.
Do đó, quy luật đầu tiên là thực tập chánh niệm. Nếu chánh niệm trở thành thói quen luôn chú tâm đến những thay đổi đầy ý nghĩa trong tâm thức, thì bạn sẽ trở thành người có bản lĩnh đến độ có thể “chộp bắt” sự bực tức ngay thờI điểm nó sanh khởi. Bạn có thể cảm nhận và biết rõ nó đang lớn dần, và bằng vào nhận thức chân thực đó, bạn bóp tan nó ngay từ trong trứng nước, loại trừ nó hoàn toàn trước khi nó hiện trên nét mặt hoặc bộc lộ qua cử chỉ của bạn. Đó là điều kỳ diệu của chánh niệm – có khả năng đốn ngã tức khắc sự bất ổn của Tâm.

Vấn đề kế tiếp là làm thế nào quán tưởng các pháp để loại trừ sân hận nếu như ta không thể tống khứ hoàn toàn nỗi bực tức bằng pháp chánh niệm. Có nhiều pháp để quán, ở đây chúng ta sẽ xem xét nhiều loại pháp quán khác nhau. Chúng tôi nghĩ rằng nếu bạn tiếp tục đọc đến trang cuối, bạn sẽ tin chắc là mình sẽ không còn muốn bực tức, cau có nữa và nhận thức rõ sự tức giận chẳng mang đến lợi lạc nào cả. Bạn sẽ không bao giờ muốn nổi nóng nữa. Chỉ riêng sự tin chắc này thôi, cũng đủ mang lại lợi lạc trong việc đưa tinh thần bạn đến sự cảm nhận mốI quan hệ bạn bè thân thiết, chấm dứt bực tức, khó chịu, hướng đến sự an tịnh và thanh thản. Bằng sự quyết tâm và ước muốn tốt đẹp này, bạn khó lòng mà chấp nhận nhượng bộ cơn sân hận, chịu sự sai sử của nó như trước đây bạn đã từng làm. Hơn nữa nếu sân hận sanh khởi hết lần sang lần khác có vẻ như nó vẫn tiếp tục kiên trì nhưng không còn mạnh bạo nữa. Bạn có thể nhớ lại và áp dụng các pháp đối trị mà chúng ta sẽ thảo luận ở đây.

Một điều cần lưu ý là trong khi áp dụng chánh niệm và quán chiếu sáng suốt, tuyệt đối không được đè nén cơn giận. Sự bực tức tự thoái lui trong quá trình tỉnh giác hơn là quán chiếu. Ở phương Tây, đôi khi người ta cho rằng khi cơn giận bị đè nén thì nó tác hại cho sức khoẻ. Vì thế, theo trường phái tư tưởng này, điều tốt nhất là bộc lộ cơn giận để giảm bớt căng thẳng. Theo trường phái khác, có nhiều sự nghiên cứu ở phương Tây cho rằng việc bộc lộ cơn giận công khai sẽ có hại. Dù thế nào đi nữa thì đối với Phật giáo, việc tự cho phép mình bộc phát cơn giận nhằm giảm sự căng thẳng là điều không thích hợp chút nào cả. Đức Phật không hề đề nghị hoặc cho phép như thế; ngược lại, Ngài kêu gọi chúng ta biến oán giận thành tình thương. Cho sự tức giận được tự do bộc phát có nghĩa là chúng ta để cho tâm thức mình bị ô nhiễm nặng hơn và tạo thêm nhiều ác nghiệp, đồng thời ta lại làm cho kẻ khác đau khổ. Trong vài trường hợp cực đoan, người ta đã gây ra án mạng chỉ vì cuồng nộ mà nạn nhân đôi khi là những người vô tội.

Phương pháp giải quyết của Phật giáo mà chúng ta đang thảo luận không hề có tính cách đè nén sự bực tức. Chánh niệm như đã đề cập, hoàn toàn không có gì là đè nén mà đơn thuần chỉ là sự nhận thưc trạng thái tâm khi cơn giận xảy đến trong ta. Bằng nhận thức và quan sát, cơn thịnh nộ lắng dần theo chiều hướng tự nhiên của nó. Và việc áp dụng sự quán chiếu sáng suốt cũng không dính dấp gì đến vấn đề đè nén. 
 
2. Duy trì sự điềm tĩnh 
Nghệ thuật giữ gìn bình tĩnh và thanh thản là điều gì đó hoàn toàn biến mất trong đời sống hiện đại của chúng ta. Nhịp sống cuồng nhịp, vội vã, đề cao sự chụp giựt vật chất, sản xuất và tiêu thụ bừa bãi, tất cả những ảnh hưởng lan tràn của phương tiện truyền thông quảng cáo cùng nhiều khía cạnh khác của cuộc sống tân tiến đã góp phần tạo nên sự xói mòn những giá trị tinh thần và nền tảng đạo đức, đồng thời khiến cho tâm chúng ta dễ dàng mất đi sự yên tịnh, luôn hiếu động, bồn chồn, lo sợ và giận dữ.

 Thực sự đã đến lúc chúng ta cân bằng sự phát triển tinh thần, tính bình dị, điềm tĩnh và thanh thản. Chúng ta nói năng ôn tồn, có tỉnh giác, không phải phát biểu do bị kích động, để ý giám sát sự hiếu động, bồn chồn bất cứ khi nào chúng sanh khởi trong tâm. Chúng ta giữ cử chỉ, hành vi điềm đạm, thư thái. Nếu chúng ta khởi sự những hoạt động hàng ngày của mình điềm đạm, chánh niệm và có chủ đích, chúng ta sẽ cảm nhận được niềm an lạc thư thái đầy thú vị. Trong cảm giác tĩnh lặng, thanh thản đó, bạn sẽ tìm thấy nhiều quyền năng và năng lực để hoàn thành nhiệm vụ cùng mục tiêu của mình.
. Do đó, “pháp đối trị” thứ hai là trau dồi duy trì sự điềm tĩnh và ổn định. Thánh Abba Dorotheus đã diễn đạt điều này khá chính xác khi ông nói: “Qua những gì ngươi làm, dù khẩn cấp hay quan trọng đi nữa, ta không muốn ngươi gây gổ hoặc lo âu. Để đảm bảo tinh thần thanh thản, mọi việc ngươi làm, lớn hoặc nhỏ, chỉ chiếm một phần tám công việc, trái lại giữ cho tâm ổn định không rối loạn dù dẫn đến thất bại đi nữa, cũng đã đạt được bảy phần tám còn lại. Tuy nhiên, nếu chỉ để hoàn tất việc mình mà ngươi bị cuốn hút đi khiến tâm ngươi và tâm kẻ khác bất ổn qua việc gây gổ, thế thì ngươi không nên đánh đổi bảy phần tám chỉ vì để giữ lại được một phần tám”. 

Qua các vấn đề nói ở trên, chúng tôi đã thảo luận về một vài thái độ áp dụng trong việc kiềm chế sân hận và giữ bình thản. Chúng tôi mong rằng độc giả đọc kỹ phần này sẽ được giải toả nhiều hơn từ trước đến giờ để nhắm tới từ bỏ sân hận và trải rộng tình thương.  Tuy nhiên  chủ đề này còn nhiều phần khác mà chúng tôi sẽ gửi tới các bạn trong các số sau của Tầm Nhìn, mong các bạn tiếp tục đón đọc

Tỳ Khưu  VISUDDHÀCÀRA